Bạn đang ở: Trang chủ

ACCPi10: có gì mới?

Chương trình ACCPi10 chính thức được đưa vào đào tạo nhằm giúp các bạn sinh viên đang theo học tại Thanglong-Aptech tiếp cận ngay với các ứng dụng hiện đại của nền công nghệ tiên tiến trên thế giới.

Chương trình đào tạo Lập trình viên ACCPi10 của Trường đào tạo lập trình viên quốc tế Thanglong-Aptech sẽ giúp các bạn trẻ đam mê công nghệ tiếp cận gần hơn với điện toán đám mây. Trong chương trình mới này sẽ có 2 môn dành riêng cho điện toán đám mây cho kỳ 2 và kỳ 3. Ở kỳ 2, các bạn sẽ được làm quen với “đám mây” thông qua môn: Introduction to Cloud Computing. Kỳ 3 là lúc mọi người được học và ứng dụng điện toán đám mây với một môn khá lớn: Working with Cloud Computing. Trong môn này, bạn sẽ được tìm hiểu qua nền tảng:


- Windows Azure (SP1, SQL Server 2005/2008 Standard/Enterprise, Windows Azure Tools (VS cloud service.exe) Nov CTP, .NET services SDK (.NET services SDK Nov 2009 CTP), IIS 7.0, BlobExplorer.zip (from codeplex)),

- Google App Engine (Eclípe SDK 3.5.1 with WTP, Java SE 6.0, Appengine - java -sdk01.2.6.zip, Google App Engine 1.2.7, apache-ant 1.8.0, Python2.6.4)

- Và Amazon tools (AMI tools.zip (ec2-ami-tools.zip), API tools.zip (ec2-ami-tools.zip), putty.exe, puttygen.exe)

Trường đào tạo lập trình viên quốc tế Thanglong-Aptech là một trong những đơn vị tiên phong đào tạo các ứng dụng về Điện toán đám mây tại Việt Nam.

Bạn biết gì về Cloud Computing – Điện toán đám mây?


“Điện toán đám mây” – chắc hẳn các bạn sẽ nghe thấy cụm từ này rất nhiều trong thời gian tới . Có thể nói, điện toán đám mây chính là xu hướng phát triển mới của ứng dụng trong tương lai. Các ông lớn như IBM, Google, Microsoft cũng đang rục rịch chuẩn bị cho nền tảng điện toán đám mây của riêng mình. Cloud Computing đang len lỏi vào đời sống công nghệ của tất cả mọi người với rất nhiều ứng dụng mới đầy tiềm năng mà điển hình nhất là Facebook app. Panda Cloud Antivirus chính là phát súng đầu tiên mở màn cho 1 xu hướng phần mềm dựa trên nền tảng điện toán đám mây tấn công vào thị trường phần mềm dùng cho máy tính để bàn. Đứng trước kỷ nguyên của “đám mây” sắp tới, bạn đã chuẩn bị cho mình được những gì?

Điện toán đám mây là gì?

“Điện toán” là khái niệm đơn giản, nó nói đến công việc của phần lớn các phần mềm hiện tại đang sử dụng như: tính toán, giải quyết các bài toán.

“Đám mây” trong điện toán đám mây không chỉ mang ý nghĩa đơn giản mà nó ám chỉ mạng internet, môi trường thông tin rộng lớn nhất. “Đám mây” chính là 1 cách chơi chữ khéo léo mô tả internet: khái niệm thường được vẽ trong các sơ đồ với hình ảnh một đám mây. Như vậy, cụm từ “điện toán đám mây” có thể được hiểu một cách đơn giản là: nền tảng tính toán dựa trên môi trường internet.

“Cloud Computing is Internet – based computing, whereby shared reources, software and information are provided to computers and other devices on-demand, like the electricity grid”. Điện toán đám mây là môi trường tính toán dựa trên internet mà ở đó tất cả phần mềm, dữ liệu, tài nguyên được cung cấp cho máy tính và các thiết bị khác theo nhu cầu (tương tự như mạng điện) - theo Wikipedia.


Mô hình Cloud Computing và Client/ Server có gì khác biệt?

Cloud client trong cloud computing và client trong mô hình client/server giống nhau ở vai trò là hiển thị dữ liệu và tiếp nhận các thao tác của người dùng, mọi tính toán nghiệp vụ đều được thực hiện ở máy chủ. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa 2 mô hình này là việc tính toán trên máy chủ:

Server trong mô hình client/server thường mang ý nghĩa là 1 hoặc cụm máy chủ trung tâm chỉ làm nhiệm vụ thực hiện tính toán cho 1 số client cụ thể (trong 1 công ty hoặc tổ chức nào đó); trong khi server trong Cloud computing lại mang 1 ý nghĩa rộng hơn nhiều. Server trong điện toán máy sẽ làm nhiệm vụ tính toán cho bất kì client nào với bất kì công việc nào (mà nó hỗ trợ). Công việc tính toán lúc này không phải thực hiện theo nghĩa vụ mà là theo dịch vụ. với điện toán đám mây, mọi thứ sẽ được cung cấp dưới dạng dịch vụ, và người dùng sẽ chỉ phải trả phí sử dụng các dịch vụ đó.

Cloud Computing mang lại lợi ích như thế nào cho người dùng?

- Tính linh động: Người dùng có thể thoải mái lựa chọn các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình, cũng như có thể bỏ bớt những thành phần mà mình không muốn. (Thay vì phải bỏ ra hàng trăm USD cho 1 bộ MS Office, ta có thể mua riêng lẻ từng phần hoặc chỉ trả 1 khoản phí rất nhỏ mỗi khi sử dụng một phần nào đó của nó).

- Giảm bớt phí:
Người dùng không chỉ giảm bớt chi phí bản quyền mà còn giảm phần lớn chi phí cho việc mua và bảo dưỡng máy chủ. Việc tập hợp ứng dụng của nhiều tổ chức lại 1 chỗ sẽ giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, cũng như tăng hiệu năng sử dụng các thiết bị này một cách tối đa.

- Tạo nên sự độc lập: Người dùng sẽ không còn bị bó hẹp với 1 thiết bị hay 1 vị trí cụ thể nào nữa. Với điện toán đám mây, phần mềm, dữ liệu có thể được truy cập và sử dụng từ bất kì đâu, trên bất kì thiết bị nào mà không cần phải quan tâm đến giới hạn phần cứng cũng như địa lý. (Bạn có thể chơi Call of Duty 6 trên iPad hoặc iPhone mà không cần quan tâm đến cấu hình của nó).

- Tăng cường độ tin cậy: Dữ liệu trong mô hình điện toán đám mây được lưu trữ 1 cách phân tán tại nhiều cụm máy chủ tại nhiều vị trí khác nhau. Điều này giúp tăng độ tin cậy, độ an toàn của dữ liệu mỗi khi có có sự cố hoặc thảm họa xảy ra. (Hãy tưởng tượng 1 ngày nào đó, server yêu quý của công ty tự nhiên bốc cháy với toàn bộ dữ liệu quý giá bên trong, bạn sẽ làm gì??)

- Bảo mật: Việc tập trung dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau sẽ giúp các chuyên gia bảo mật tăng cường khă năng bảo vệ dữ liệu của người dùng, cũng như giảm thiểu rủi ro bị ăn cắp toàn bộ dữ liệu. (Dữ liệu được đặt tại các 6 máy chủ khác nhau trong trường hợp hacker tấn công, bạn cũng sẽ chỉ bị lộ 1/6. Đây là 1 cách chia sẻ rủi ro giữa các tổ chức với nhau).

- Bảo trì dễ dàng: Mọi phần mềm đều nằm trên server, lúc này, người dùng sẽ không cần lo lắng cập nhật hay sửa lỗi phần mềm nữa. Và các lập trình viên cũng dễ dàng hơn trong việc cài đặt, nâng cấp ứng dụng của mình.


Ai đang ứng dụng Cloud Computing?



 

Các ông lớn đã bắt đầu rục rịch trong cuộc chạy đua đến với điện toán đám mây. Những Google, Microsoft, Amazone, Sun đều đã và đang phát triển những nền tảng điện toán đám mây của riêng mình. Các nền tảng điện toán mây lớn có thể kể đến bây giờ bao gồm:

- Google App Engine của Google: http://code.google.com/appengine/

- Windows Azure của Microsoft: http://www.microsoft.com/windowsazure/windowsazure/

- Nền tảng điện toán đám mây ra đời đầu tiên: Amazone Webservice của Amazon.com

- Sun Cloud của Sun http://www.sun.com/solutions/cloudcomputing/

- Facebook

Những ứng dụng điện toán đám mây dù mới nhưng đang mở ra một tương lai đầy hứa hẹn. Một trong những ứng dụng đầy tiềm năng là nền tảng game Gaikai. Với Gaikai, người dùng có thể chơi bất kỳ game nào trên bất kì thiết bị nào miễn là nó có đường truyền internet đủ mạnh. Các game trong hệ thống Gaikai sẽ được chạy trên hệ thống máy chủ cực mạnh của nhà cung cấp rồi được truyền tới máy người dùng dưới dạng 1 video stream. Cách thiết kế này mở ra một chân trời mới đầy tiềm năng mà ở đó, ta hòan toàn có thể chứng kiến những tựa game có cấu hình khủng được chơi trên những thiết bị cầm tay như iPad, hoặc trên các máy tính xách tay có cấu hình thường thường bậc trung.

Thanglong-Aptech

 

Năm 2015, Việt Nam "lọt" top 5 nước gia công phần mềm

Mục tiêu của ngành công nghiệp công nghệ thông tin (IT) đến năm 2015 là đạt doanh thu toàn ngành 17 - 19 tỷ USD, trong đó doanh thu phần mềm khoảng 2 tỷ USD, phần cứng khoảng 12,5 tỷ USD, nội dung số 2 tỷ USD và dịch vụ khoảng 1,5 tỷ USD.

Đó là một trong những nội dung chính trong dự thảo Chương trình phát triển công nghiệp IT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đang được Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng để trình Chính phủ ban hành.

Theo dự thảo, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành đến năm 2015 đạt khoảng 17,5%/năm. Trong đó, phần cứng tăng 18%/năm, phần mềm 15%/năm, nội dung số 20%/năm. Tỷ trọng xuất khẩu chiếm trên 60% tổng doanh thu toàn ngành.

“Bệ đỡ” để phát triển ngành công nghiệp IT là phát triển ba vùng kinh tế trọng điểm thành ba trung tâm công nghiệp IT chủ lực của cả nước; ba đô thị đặc biệt gồm Tp.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng trở thành ba trung tâm sản xuất phần mềm, dịch vụ và nội dung số, trong đó Tp.HCM có doanh thu 3 tỷ USD, Hà Nội 1,8 tỷ USD và Đà Nẵng 300 triệu USD.




Khu công viên Phần mềm Quang Trung (Tp.HCM).


Theo đó, sẽ hình thành ba cụm các địa phương mạnh về công nghiệp phần cứng, điện tử trong khu vực bao gồm cụm phía Bắc với Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc đạt doanh thu 5 tỷ USD, cụm phía Nam gồm Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai đạt doanh thu 6 tỷ USD và cụm miền Trung gồm Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế đạt doanh thu 700 triệu USD.

Trong chiến lược phát triển đến 2015, Bộ còn đặt mục tiêu sẽ phát triển được 2 doanh nghiệp phần cứng, điện tử có doanh thu trung bình trên 2 tỷ USD, 2 doanh nghiệp phần mềm có doanh thu trung bình trên 200 triệu USD/năm và 2 doanh nghiệp nội dung số đạt doanh thu trên 500 triệu USD/năm; có ít nhất 60 doanh nghiệp phần mềm được cấp chứng chỉ công nhận quy trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn CMMi.

Đồng thời, đào tạo lại 50 nghìn kỹ sư công nghệ thông tin có trình độ cao, thông thạo chuyên môn và ngoại ngữ.

Cùng với “con số 2” của những mục tiêu trên, dự thảo cũng đặt mục tiêu sẽ phấn đấu hình thành được 2 sản phẩm phần cứng hoặc dòng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, mang thương hiệu Việt Nam, đảm bảo cung cấp cho thị trường nội địa, có khả năng xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Đặc biệt là sẽ bản địa hóa được một số sản phẩm phần mềm nguồn mở có ứng dụng hiệu quả trong các cơ quan Nhà nước; phát triển được 1 công cụ tìm kiếm tiếng Việt và 3 trang mua sắm hàng hóa trên mạng, thu hút nhiều người sử dụng, đáp ứng đặc thù ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

Đến thời điểm đó Việt Nam lọt vào nhóm 5 nước hấp dẫn nhất về gia công phần mềm, có ba thành phố gồm Tp.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng lọt vào nhóm 10 thành phố mới nổi về gia công phần mềm toàn cầu.

Thu hút được trên 5 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài vào công nghiệp công nghệ thông tin, trong đó có một số tập đoàn hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin đầu tư vào các trung tâm R&D tại Việt Nam.

Được biết, dự thảo Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 sẽ được trình Chính phủ vào cuối năm nay.

Theo VNEconomy

   

Nhân lực CNTT: Khó đạt chất lượng cao bằng chi phí thấp

Nếu chưa sớm giải quyết được rào cản về cơ chế và kinh phí, đào tạo nhân lực CNTT trong nước trong những năm tới sẽ tiếp tục bị “kêu” là chất lượng kém, khó đáp ứng nhu cầu thực tế. Hiện cả nước có 235 cơ sở đào tạo có ngành liên quan đến CNTT, thì phần lớn trong số đó chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu thực tế về cơ sở vật chất, thiếu giáo trình tiên tiến......

 Đánh giá thấp nhân lực “nội”


Không thể nói chuyện đắt rẻ


Tại buổi toạ đàm về nhân lực CNTT do Bộ TT&TT tổ chức với đại diện một số doanh nghiệp, hiệp hội và các trường đại học diễn ra ngày 13/1/2010 tại Hà Nội, ý kiến của đại diện công ty như VDC, Vietsoftware, Hiệp hội doanh nghiệp phần mềm, Hội tin học Việt Nam… đều chung nhận định: Chất lượng nhân lực CNTT và thị trường nhân lực CNTT trong nước còn quá nhiều hạn chế, khó đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong nước. Cụ thể hơn, đó là khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh kém, yếu trong kỹ năng làm việc nhóm, kiến thức thực tế cũng như khả năng tư duy sáng tạo chưa cao…


Trước ý kiến doanh nghiệp “kêu” chất lượng sinh viên và chất lượng đào tạo tại các trường, đại diện các cơ sở đào tạo như Đại học Công nghệ Hà Nội, Đại học Công nghiệp Hà Nội đã chia sẻ hàng loạt khó khăn. Theo đại diện của trường Đại học Công nghiệp, mức học phí áp trần Nhà nước qui định đối với các trường là 200.000 đồng/tháng như hiện nay đang tỏ ra nhiều bất cập, nhà trường cũng chỉ đáp ứng nổi khoảng 10% nhu cầu thực tiễn bằng mức thu đó. Do học phí thấp, các trường không thể có điều kiện đầu tư thêm cơ sở vật chất để sinh viên thực hành, tránh chuyện học “chay”. Còn ông Bùi Thế Duy, Chủ nhiệm khoa CNTT trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) khẳng định: Có lẽ chính vì sự hạn chế trong điều kiện đào tạo trong nước mà vài năm trở lại đây, CNTT đã không còn là ngành hấp dẫn đối với sinh viên. Thực tế tỷ lệ sinh viên dự tuyển vào ngành CNTT liên tục giảm so với các ngành như kinh tế, ngoại thương…

Đào tạo gặp khó do cơ chế

Trong bài phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác năm 2010 của Bộ TT&TT, Thủ tướng Nguyễn Tẫn Dũng đã khẳng định chúng ta phải quyết tâm đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT. Trong đó vấn đề then chốt để thực hiện mục tiêu này chính là nguồn nhân lực. Bộ trưởng Bộ TT&TT Lê Doãn Hợp thì cho rằng, cần phải học tập các quốc gia như Ấn Độ để phát triển nguồn nhân lực CNTT cho mình. Trên thực tế, nếu có chính sách phù hợp thì sẽ phát huy được tiềm năm của con người Việt Nam.

Tuy nhiên, ông Phạm Long Trận, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn VNPT đã đưa ra một số ví dụ về câu chuyện phát triển nhân lực tại Tập đoàn để khẳng định: vấn đề đào tạo nguồn nhân lực CNTT của Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trong vấn đề cơ chế. Như việc Học viện Bưu chính Viễn thông xin Nhà nước cho phép thực hiện theo cơ chế xã hội hoá tự thu tự chi, nhưng đã vài năm nay cũng không được cấp phép. Bên cạnh đó, trường Trung cấp nghề của VNPT muốn nâng lên Cao đẳng với chất lượng đào tạo nhân lực cao hơn nhưng do vướng điều kiện phải có trên 5ha đất mới được cấp phép (trong khi VNPT mới chỉ có khả năng lo được 3 ha) nên tạm thời phải gác lại kế hoạch. Ông Trận khẳng định: “Chúng ta phải đưa ra các nội dung qui định liên quan đến chất lượng đào tạo, về đội ngũ giáo viên…, chứ không chỉ nên ràng buộc về chỉ tiêu đất”.

Không thể nói chuyện đắt - rẻ

Các chuyên gia cho rằng, để đưa ra giải pháp tháo gỡ cho sự thiếu hụt nhân lực CNTT trình độ cao, trong định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT ở tầm Quốc gia, Nhà nước cần đưa ra định hướng cụ thể: Việt Nam cần phát triển nhân lực ở lĩnh vực nào (phần cứng hay phần mềm, công nghiệp nội dung số…), nghiên cứu xây dựng chương trình dự báo nhu cầu thực tế của xã hội đối với nhân lực CNTT phân theo thị trường, nhóm ngành, trình độ…, chứ không thể đưa ra mục tiêu về số lượng chung chung. Ông Vũ Hoàng Liên – Giám đốc VDC cũng đưa ra gợi ý: Trong điều kiện có thể, Nhà nước nên nghiên cứu xây dựng một hệ thống xếp hạng tương đối khớp với tiêu chuẩn của quốc tế để áp dụng vào việc đào tạo của các trường đào tạo về CNTT trong nước, để khi sinh viên ra trường cầm trên tay tấm bằng, chứng chỉ của nhà trường là có thể tạo được sự “yên tâm” về chất lượng đối với các doanh nghiệp khi xin việc.

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng đồng tình cho rằng cần có cơ chế cho sinh viên theo học ngành CNTT vay dưới dạng hỗ trợ tín dụng giáo dục, tăng cường hình thức xã hội hoá đào tạo... Đặc biệt, vấn đề đào tạo không thể nói chuyện thu học phí đắt hay rẻ mà phải căn cứ vào chất lượng đào tạo ra sao. Muốn đào tạo nhân lực chất lượng cao với… chi phí thấp là một bài toán vô cùng khó khăn. “Nếu Nhà nước không quyết tâm, đưa ra vấn đề đột phá thì các cuộc họp bàn về nhân lực CNTT sẽ mãi ở trong vòng luẩn quẩn” – Ông Phạm Tấn Công, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm VINASA phát biểu.

Hiện nay Nhà nước đã có cơ chế cho phép áp dụng giáo trình của nước ngoài vào công tác giảng dạy chính quy, tuy nhiên khả năng tài chính của phần lớn cơ sở đào tạo rất khó khăn. Do vậy, nên chăng Nhà nước xem xét, nghiên cứu lựa chọn một số chương trình đào tạo CNTT tiên tiến trên thế giới để mua bản quyền và cung cấp miễn phí, hoặc thu phí một phần các chương trình này để đưa vào giảng dạy tại các cơ sở đào tạo CNTT trong nước.


 

(theo ICTnews)

   

Cùng doanh nghiệp lấp “khoảng trống giáo dục

Tại Việt Nam, để hạn chế đến mức tối đa tình trạng “thừa lượng thiếu chất”, xa rời thực tế trong vấn đề đào tạo nhân lực Công nghệ Thông tin thì rất cần sự hợp tác chặt chẽ giữa đơn vị đào tạo và doanh nghiệp.

Lấp đầy “khoảng trống giáo dục”

Tại Hội thảo “Hợp tác Nhà nước và doanh nghiệp để phát triển CNTT” diễn ra tại Hà Nội tháng 6/2010, ông Jeung Bae - đại diện đến từ Hiệp hội Doanh nghiệp thông tin Hàn Quốc chia sẻ: Theo thống kê sơ bộ tại Hàn Quốc, trung bình cứ 100 đơn xin việc thì có khoảng 12 hồ sơ được gọi phỏng vấn và chỉ có 3 người được tuyển dụng. Và sau khi tuyển dụng được nhân sự, các doanh nghiệp cũng phải mất ít nhất khoảng 7 tháng cho việc tái đào tạo. “Đây thực sự là một sự hao tổn kinh phí “ngầm” khiến cho không ít doanh ngihệp phải đau đầu”, ông Jeung nhấn mạnh.

Liên quan đến vấn đề này, ông Srinath Batni, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT Ấn Độ (NASSCOM) cho hay: Chi phí trung bình cho tuyển dụng mới tại nhiều doanh nghiệp của Ấn Độ là hơn 3.300 USD, thời gian dành cho đào tạo chiếm khoảng 17% thời gian lao động của một nhân lực tại doanh nghiệp trong một năm. Nếu nhân lực được tuyển dụng không đáp ứng được đòi hỏi công việc, phải đào tạo lại thì chi phí của các doanh nghiệp sẽ còn tăng lên do bị ảnh hưởng đến hoạt động, tiến độ của công việc.

Chính vì thực trạng đó, vấn đề tuyển dụng được nhân lực đạt chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp luôn được đặt ra bức thiết, đặc biệt là tạo ra sự cân bằng giữa cung và cầu. Nhưng làm thế nào để tạo được sự cân bằng?

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia đã khẳng định vấn đề này phụ thuộc vào sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, nhu cầu của doanh nghiệp và khả năng cung cấp nhân lực cho thị trường của bản thân các đơn vị đào tạo. Trao đổi thêm, ông Srinath Batni cho rằng cũng như cách thức nhiều nước đang thực hiện, Việt Nam nên có sự nghiên cứu bài bản về nhu cầu của các ngành trong tương lai, ở từng phân khúc thị trường như ngành công nghiệp ô tô, ngành y tế… sẽ cần bao nhiêu nhân lực CNTT, ở trình độ nào… Ngoài ra, cũng cần phải tạo được mô hình để cho những người không có điều kiện tiếp cận với đào tạo CNTT chính quy vẫn có thể tìm kiếm được công việc.

Tuy không phải là một vấn đề mới, nhưng nhiều chuyên gia tham dự hội thảo cũng lưu ý Việt Nam cần phải thu hẹp khoảng cách đào tạo với nhu cầu thực tế thông qua sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường (đơn vị giảng dạy) và phía doanh nghiệp (đơn vị sử dụng nhân lực) dưới sự điều hành của Chính phủ. “Thực tế cho thấy, doanh nghiệp nào kết hợp chặt chẽ với nhà trường (và ngược lại) sẽ cho phép tiết kiệm được kinh phí, rút ngắn được thời gian đào tạo. Các công ty sẽ giúp các trường đào tạo nâng cao chất lượng sinh viên, đồng thời có thể tham vấn cho giáo trình giảng dạy”, ông Srinath Batni nhấn mạnh.

Kinh nghiệm từ Hàn Quốc


Theo ông Jeung Bae, tại Hàn Quốc, hai Bộ của quốc gia này là Bộ Phát triển Nhân lực và Bộ Giáo dục - Đào tạo trong thời gian qua luôn có sự kết hợp chặt chẽ với nhau để cùng nghiên cứu, xem xét những khoảng trống giữa giáo trình của ngành giáo dục đối với thực tế công việc, thực tế nhu cầu tuyển dụng của thị trường nhân lực CNTT, để trên cơ sở đó bàn cách “lấp đầy” những khoảng trống. “Hiện nay công việc này đang được thực hiện tại khoảng 1000 trường đại học, cao đẳng, học viện trên cả nước và cũng đang thể hiện những hiệu quả rất rõ rệt”, ông Jeung Bae khẳng định.

Hàn Quốc luôn nỗ lực để đào tạo được đội ngũ nhân lực CNTT đáp ứng được nhu cầu xã hội như nghiên cứu, đánh giá khả năng xin việc của nhân lực CNTT khi theo học những chương trình đào tạo (như với ngành A liệu có xin được việc một cách dễ dàng hay không, cần phải mất bao nhiêu thời gian, mức lương trung bình sẽ ra sao…) Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là các đơn vị liên quan cần phải phối hợp, nghiên cứu những lỗ hổng và dự báo được sự phát triển. Vấn đề này cần được nhìn nhận là một quá trình hai chiều cần phải được thực hiện liên tục, chặt chẽ trong bối cảnh nhu cầu tuyển dụng nhân lực có chất lượng của các lĩnh vực ngày càng tăng. Nếu không đi theo hướng như vậy, sẽ rất dễ dẫn tới tình trạng đào tạo tràn lan, dư thừa và tất yếu sẽ gây nên tình trạng lãng phí nhân lực như nhiều quốc gia đang phải đối mặt.

Thông qua thảo luận, các chuyên gia cũng nhận định đặt trong bối cảnh hiện nay, các công ty chính là những đối tác không thể thiếu đối với các trường đại học, cao đẳng. Bởi thông qua đó, nhà trường có thể nắm bắt được nhu cầu, sự kỳ vọng cũng như dự đoán của họ về thị trường nhân lực trong tương lai… Cùng đó, việc xây dựng mối quan hệ giữa giảng viên các đơn vị giáo dục, đào tạo và doanh nghiệp là vấn đề hết sức quan trọng tuy nhiên vấn đề này cũng đòi hỏi sự thay đổi trong một thời gian lâu dài do tại Việt Nam, phần lớn các giảng viên chỉ quen với công việc giảng dạy thuần tuý, ít tham gia vào thực tế của các doanh nghiệp.

Nguyên Đức
(theo ICTnews)

 

   

10 lý do bạn chọn MySQL

10 lý do bạn chọn MySQL Cơ sở dữ liệu MySQL đã trở thành cơ sở dữ liệu mã nguồn mở phổ biến nhất trên thế giới vì cơ chế xử lý nhanh và ổn định của nó cùng với sự đáng tin cậy cao và dễ sử dụng. Bài viết này sẽ giải thích tại sao bạn nên chọn MySQL cho ứng dụng của mình.

Cơ sở dữ liệu MySQL đã trở thành cơ sở dữ liệu mã nguồn mở phổ biến nhất trên thế giới vì cơ chế xử lý nhanh và ổn định của nó, sự đáng tin cậy cao và dễ sử dụng. Nó được sử dụng mọi nơi – ngay cả châu Nam Cực - bởi các nhà phát triển Web riêng lẻ cũng ...

Thủ thuật tối ưu ổ cứng để nâng cao tốc độ máy tính

Thủ thuật tối ưu ổ cứng để nâng cao tốc độ máy tính Ổ cứng là thành phần quan trọng của máy tính, không chỉ chứa dữ liệu người dùng, ổ cứng còn ảnh hưởng đến tốc độ và hiệu suất hoạt động của toàn hệ thống, do vậy cải thiện hiệu suất hoạt động của ổ cứng sẽ giúp cải thiện tốc độ và hiệu suất của toàn hệ thống.
Chấm điểm hiệu suất hoạt động ban đầu của hệ thống:

 
Trước khi sử dụng các công cụ miễn phí để tối ưu hiệu suất hoạt động của ổ cứng, để thuận tiện hơn trong việc ghi nhận kết quả của công việc, chúng ta nên sử dụng một phần mềm có chức năng ...

Apple TV ra mắt với giá 99 USD

Apple TV ra mắt với giá 99 USD

Apple TV mới sẽ được trang bị bộ xử lý A4, Wi-Fi chuẩn N, thiết kế nhỏ gọn vừa vặn trong lòng bàn tay nhưng không còn ổ cứng tích hợp gắn trong nữa.

Apple TV mới có thiết kế nhỏ gọn hơn. Ảnh: Daylife .

Đúng như những tin đồn đã xuất hiện trước đây, Apple TV thế hệ mới đã chính thức được trình làng với giá bán chỉ có 99 USD. So với phiên bản đầu tiên ra mắt trước đó, Apple TV không chỉ có rẻ hơn nhiều, giảm từ 299 USD xuống, mà còn có thiết kế cực kỳ gọn gàng. Phiên bản mới nhỏ hơn tới 80% mẫu...

Tuyển web developer

Tuyển web developer

TNH là công ty 100% vốn Việt Nam được thành lập vào năm 2006 với một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp cùng rất nhiều năm kinh nghiệm làm việc tại rất nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn trên thế giới và các công ty hàng đầu Việt Nam. Sau một thời gian hoạt động, công ty đã lớn mạnh và trở thành một trong các công ty truyền thông và tổ chức sự kiện có uy tín nhất tại Miền Bắc Việt Nam. Để phục vụ cho nhu cầu phát triển và đáp ứng hơn yêu cầu từ phía khách hàng, bắt đầu từ năm 2009 TNH đã chuyển đổi san...

Sinh viên tiêu biểu

Tập thể tiêu biểu



Giải thưởng

Hỗ trợ trực tuyến

cs.aptech01 vấn 1 - click để chat )
 Điện thoại: 0983.250.885

cs.aptech02 vấn 2 - click để chat
 Điện thoại: 0988.356.616

 Hỗ trợ: (04) 3552 6833

Video

Nhà tuyển dụng nói về Aptech

Danh sách Công ty tuyển dụng

Sơ đồ đường đi

Sơ đồ đường đi